Hiện nay rất nhiều người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống và làm việc. Vậy câu hỏi đặt ra là đối với người Việt Nam làm việc ở nước ngoài, có thu nhập ở nước ngoài thì có phải thực hiện nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân hay không? Có cần phải thực hiện tìm hiểu cách đăng ký mã số thuế thu nhập cá nhân để thực hiện việc nộp thuế thu nhập cá nhân không? 

Theo quy định tại Điều 1 Thông tư 111/2013 đã quy định cụ thể đối tượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm các đối tượng là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tại Khoản 4 cũng quy định cụ thể về việc nộp thuế thu nhập chịu thuế đối với các cá nhân như sau:

-Thứ nhất là cá nhân có quốc tịch Việt Nam kể cả cá nhân được cử đi công tác, lao động và học tập tại nước ngoài có thu nhập chịu thuế.

– Thứ hai là cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam nhưng có thu nhập chịu thuế, bao gồm: người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, người nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.

Như vậy có nghĩa rằng, đối với các cá nhân là người có quốc tịch Việt Nam, kể cả trong trường hợp cá nhân được cử đi công tác, lao động ở nước ngoài có thu nhập chịu thuế. 

Để xác định trường hợp này có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không thì cần phải xác định người này thuộc đối tượng là cá nhân cư trú hay là cá nhân không cư trú. 

Vậy làm thế nào để xác định được cá nhân đó là cá nhân cư trú? Theo quy định của pháp luật, cá nhân cư trú phải đáp ứng một trong những điều kiện sau đây:

Thứ nhất: cá nhân đó phải có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ hai, cá nhân đó có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

+ Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú

+ Đối với công dân Việt Nam: nơi ở thường xuyên là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú. 

Tiền lương làm thêm giờ có phải đóng bảo hiểm xã hội? 

Những thông báo cần chú ý khi thực hiện nộp tờ khai thuế qua mạng

Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.”

Như vậy, có thể thấy, pháp luật đã quy định cụ thể về các trường hợp người lao động làm việc tại nước ngoài, có thu nhập ở nước ngoài phải thực hiện việc nộp thuế thu nhập cá nhân. Nếu đi nước ngoài làm việc, định cư và đã được xóa đăng ký thường trú, mà không có thu nhập chịu thuế phát sinh ở Việt Nam thì sẽ không phải nộp thuế thu nhập cá nhân khi phát sinh thu nhập ngoài Việt Nam. Theo quy định tại Điều 22 Luật Cư trú năm 2006 thì một trong những căn cứ để xóa đăng ký thường trú là trường hợp ra nước ngoài để định cư.